1.1 Xác định chương trình sạch hơn
Quét sạch lớp băng dính bụi than đã bám dính. Như chúng ta đã biết, than thô vận chuyển từ mặt khai thác có độ ẩm khác nhau, dễ dàng liên kết than nghiền mịn với bề mặt của băng. Nếu than nghiền liên kết với băng không được làm sạch, than nghiền sẽ được đưa vào thùng chứa băng tải và con lăn dưới toàn bộ đai dưới ở phần trống (tức là đai dưới) và chủ yếu sẽ được đưa vào thùng chứa băng tải.
Các kết quả chính là:
Một lượng lớn than nghiền thành bột tích tụ trong thùng chứa băng tải làm chôn vùi con lăn hỗ trợ khiến con lăn không hoạt động và ảnh hưởng đến tuổi thọ của dây đai;
2) Sự sai lệch của hoạt động của dây đai sẽ gây ra tai nạn treo hoặc rách cạnh;
3) Tăng khả năng chống chạy của băng và tăng giá thành;
4) Lượng than được làm sạch tăng lên làm tăng cường độ lao động của công nhân;
Trong việc sử dụng chất tẩy rửa than, có ba vấn đề cần giải quyết:
1) Hiệu quả làm sạch phải tốt;
2) Chất tẩy rửa dễ thay thế và khối lượng công việc bảo trì phải nhỏ;
3) Phải có lối thoát cho than đã được làm sạch thành bột.
1. Phân tích hiện trạng
1) Cấu tạo và vị trí của máy làm sạch than truyền thống
Như có thể thấy trong Hình 2-1, máy làm sạch than thường được lắp đặt ở phía sau thùng. Máy làm sạch than là cố định một miếng băng dính ở giữa hai thanh nẹp để tạo thành khung máy làm sạch than, sử dụng kết cấu chốt và đòn bẩy để làm cho băng sạch than dính vào băng rỗng để làm sạch, dùng sức căng của lò xo để làm sạch than và đai rỗng tạo ra một áp suất nhất định, có thể làm cho băng sạch than bị mòn sau khi bù áp.
2) Nhược điểm của máy làm sạch than truyền thống
Một. Máy làm sạch than bao gồm một băng làm sạch, do đai dưới là đai rỗng nên dưới áp lực của máy làm sạch than nổi lên, áp suất của máy làm sạch than không đủ, hiệu quả làm sạch kém.
6. Máy làm sạch than nằm ở mặt sau của trống dỡ, và thường cách trống dỡ hơn 1m theo điều kiện lắp đặt, than khi làm sạch cần xử lý một phễu than nhỏ để trượt than sang đai tiếp theo, nhưng đôi khi do chiều cao của không gian ngầm không đủ nên than bị cuốn xuống không thể trượt đi.
c. Khối lượng công việc thay thế của máy làm sạch than lớn khiến máy làm sạch than dễ bị hư hỏng, chu kỳ thay thế cũng rất ngắn.
3) Khớp nối vận chuyển đai điển hình
Một vòng vận chuyển băng tải điển hình được thể hiện trong Hình 2-2.
Như có thể thấy trong Hình 2-2, than dưới máy làm sạch than không thể trượt trực tiếp trên đai và theo quy định của "Quy định an toàn mỏ than", 35 bộ phận vận hành của tất cả các thiết bị phải được trang bị thiết bị bảo vệ (tức là tấm chắn), vì vậy sau khi đai được trang bị tấm chắn, vấn đề than trượt xuống bởi hai máy làm sạch đai sẽ tăng lên.